Bình Dương: Hướng đến Hệ thống quan trắc nước thải tự động hiện đại và thân thiện với môi trường

Là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp (KCN), nên công tác bảo vệ môi trường đòi hỏi phải được quan tâm. Xác định nhiệm vụ đó, Bình Dương hiện có 100% KCN đã lập hồ sơ về môi trường, rất nhiều KCN đi vào hoạt động đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Thế nhưng, để kiểm soát chất lượng nước thải đầu ra từ các KCN là vấn đề không hề đơn giản…

Trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục KCN Đồng An

Từ tháng 7-2011, hệ thống quan trắc nước thải tự động hiện đại với tổng vốn đầu tư gần 29 tỷ đồng của Bình Dương đã đi vào hoạt động; 6 KCN được lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động. Nguồn thải tại 6 KCN này cùng 15 nguồn nước thải có lưu lượng lớn khác cũng được lắp hệ thống camera quan sát 24/24 giờ quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải của các doanh nghiệp. Hiện đại hóa hệ thống này, đến nay, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Bình Dương đã kết nối thêm 31 Trạm quan trắc nước thải tự động của Dự án đầu tư hệ thống quan trắc nước thải tự động giai đoạn 2, nâng tổng số lên 57 trạm quan trắc.

Không chỉ kiểm soát chất lượng nước thải, Bình Dương cũng thực hiện nhiều giải pháp để kiểm soát chất lượng nguồn nước mặt. Đây là trạm quan trắc nước mặt tự động sông Sài Gòn, đặt tại trạm bơm nước thô Thủ Dầu Một. Trạm quan trắc này cũng sẽ tự động đo các chỉ tiêu ô nhiễm các vị trí dùng làm nguồn nước cấp cho các nhà máy nước Thủ Dầu Một. Hiện nay, quan trắc chất lượng nước mặt bằng thiết bị quan trắc tự động đang được thực hiện liên tục tại các điểm sông Sài Gòn tại Trạm bơm nước thô Thủ Dầu Một – phường Chánh Mỹ (TP.Thủ Dầu Một); sông Đồng Nai tại Trạm bơm nước thô Tân Hiệp, phường Uyên Hưng (TX. Tân Uyên) và sông Thị Tính tại Công ty TNHH Vĩnh Nguyên, xã An Điền, TX.Bến Cát. Các điểm này cũng chính là 3 vị trí quan trắc mà Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên môi trường tỉnh Bình Dương đến năm 2020 đã phê duyệt. Các dữ liệu về chất lượng môi trường nước mặt luôn luôn được cập nhật, giúp cho các nhà quản lý nắm bắt, đánh giá được các diễn biến về chất lượng môi trường nước mặt nhanh chóng để đưa ra các giải pháp xử lý kịp thời, nhằm giảm thiểu tối đa mức độ ô nhiễm môi trường nước mặt.